← Studio Log
D. 기술 신뢰 (Uy tín)다국어국제화로케일다국어 설계베트남 시장

Nội dung tiếng Việt là viết lại chứ không phải dịch

Nội dung tiếng Việt là viết lại chứ không phải dịch
viết bởi Yeowubie

Khi việc dịch sát nghĩa trở nên gượng gạo với người đọc trong nước

Dịch sát nghĩa chuyển được ý nghĩa của từ ngữ nhưng không chuyển được ý nghĩa của câu. Một đoạn văn tiếng Hàn hay tiếng Anh đứng trên nền kiến thức mà người đọc bản xứ đã có sẵn. Bỏ phần nền đó đi và chỉ đổi câu chữ sang tiếng Việt thì ngữ pháp vẫn đúng, nhưng người đọc không hiểu người viết muốn dẫn mình tới đâu.

Chỗ lệch đầu tiên là cấu trúc câu. Tiếng Hàn cho phép chồng nhiều mệnh đề bổ nghĩa ở phía trước rồi mới đặt danh từ ở cuối, và trong văn bản công việc điều này rất phổ biến. Tiếng Việt thì phần bổ nghĩa thường đi sau, nên khi giữ nguyên trật tự cũ, người đọc phải giữ trong đầu ba bốn ý chưa biết thuộc về ai cho tới cuối câu. Thói quen muốn một câu gốc phải thành đúng một câu dịch chính là nguyên nhân. Tách thành hai câu là xong, nhưng người dịch thường không dám tách vì sợ bị coi là thêm bớt.

Việc lược chủ ngữ cũng gây rắc rối thường xuyên. Văn bản công việc tiếng Hàn hay bỏ chủ ngữ, người đọc tự hiểu ai làm gì nhờ ngữ cảnh. Tiếng Việt cần chủ thể hiện diện rõ hơn thì câu mới tự nhiên. Khi dịch máy móc, chỗ chủ ngữ hoặc bị bỏ trống hoặc bị điền nhầm người. Trong thông báo cho khách, điều khoản dịch vụ hay hướng dẫn xử lý sự cố, chỗ trống đó chính là chỗ tranh cãi về trách nhiệm sau này. Ai kiểm tra, ai phản hồi, trong bao lâu, nếu câu không nói rõ thì mỗi bên hiểu một kiểu.

Những cụm danh từ nén chặt trong văn bản doanh nghiệp cũng khó bê nguyên. Các cụm kiểu hiện thực hóa tăng trưởng bền vững thông qua tối đa hóa sự hài lòng của khách hàng khi đọc bằng tiếng gốc thì trôi qua như một thành ngữ. Nhưng để viết ra tiếng Việt thì phải mở nó thành câu có chủ ngữ và vị ngữ, và mở ra xong thì lộ rõ là câu đó gần như không mang thông tin nào. Câu rỗng vốn ẩn trong bản gốc bỗng hiện ra rất rõ trong bản tiếng Việt.

Giả định văn hóa cũng không đi theo. Phần giới thiệu công ty bằng tiếng Hàn thường mở đầu bằng lời khiêm nhường và cam kết. Người đọc trong nước không tìm thấy thông tin ở chỗ đó. Họ muốn biết ngay công ty làm ra cái gì, ai đang dùng, và liên hệ ở đâu. Đổi thứ tự nghe như vượt quá phạm vi của việc dịch, nhưng chính thứ tự đó quyết định người đọc còn ở lại trang hay đóng tab.

Vì vậy trong thực tế, công việc không bắt đầu từ việc dịch từng câu. Người phụ trách rút ra bộ khung lập luận của bản gốc, rồi người viết tiếng Việt nhìn bộ khung đó và viết lại từ đầu. Kết quả là các câu không tương ứng một đối một, số đoạn cũng có thể khác. Cách này gây khó chịu cho ai muốn lập bảng đối chiếu song song. Đổi lại, người đọc hiểu.

Tiêu chí soát bài vì thế cũng thay đổi. Nếu soát theo kiểu kiểm xem bản gốc có gì mà bản tiếng Việt thiếu gì, bài viết sẽ bị kéo ngược về phía bản gốc và giữ lại đúng những chỗ gượng. Bản tiếng Việt nên được đọc theo tiêu chí khác: bài này bảo người đọc làm gì, chỗ nào đọc lên thấy sượng, chỗ nào phải đọc lại lần hai. Người soát tốt nhất là người chưa xem bản gốc.

Cách xưng hô và ngữ điệu tạo ra niềm tin

Tiếng Việt buộc người viết phải chọn cách gọi đối phương ở gần như mọi câu. Một từ trung tính trong tiếng Hàn hay tiếng Anh, khi sang tiếng Việt, lập tức trở thành quý khách, anh chị, bạn hay quý công ty. Không có đường vòng nào để né. Không chọn thì câu văn bị mơ hồ, chọn sai thì hoặc là suồng sã hoặc là xa cách.

Văn bản giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp và giao diện ứng dụng cần hai giọng khác nhau. Hồ sơ năng lực, báo giá và các tài liệu liên quan tới hợp đồng dùng cách xưng hô trang trọng. Màn hình mà người dùng nhìn mỗi ngày cần câu ngắn và gần hơn. Vấn đề là cùng một công ty phải dùng cả hai giọng. Nếu không quy định trước kênh nào dùng giọng nào thì mỗi màn hình một kiểu, và người dùng nhận ra ngay. Một trang thì trịnh trọng, trang kế bên lại thân mật quá mức, đọc xong có cảm giác đây là mấy công ty khác nhau ghép lại.

Có dùng cách xưng hô theo tuổi và quan hệ hay không cũng là một quyết định phải chốt. Dùng thì câu quảng cáo gần gũi hơn hẳn, nhưng đồng thời thu hẹp nhóm người đọc thấy mình được nói tới. Đưa vào thông báo chính thức thì bài viết mất trọng lượng. Đây không phải chuyện người viết tự quyết trong lúc gõ từng câu, mà là chuyện thương hiệu phải chốt trước. Không chốt thì gu của người làm hôm đó trở thành giọng của công ty.

Khác biệt từ vựng giữa các vùng cũng nên xử lý sớm. Có những từ miền Bắc và miền Nam dùng khác nhau, và không có bên nào sai. Câu hỏi chỉ là khách hàng chính của mình đang ở đâu. Nếu không thống nhất, các trang sẽ trộn lẫn, và tới lúc muốn sửa đồng loạt thì không phân biệt được đâu là lựa chọn có chủ ý, đâu là do người viết lúc đó quen tay. Ghi lại quyết định ngay khi chọn sẽ tiết kiệm rất nhiều thời gian về sau.

Những chuỗi chữ ngắn như nút bấm và thông báo lại là phần khó nhất. Ngắn nên rất dễ nảy ý định dịch thẳng, nhưng càng ngắn thì giọng điệu càng lộ. Xác nhận, hủy, đăng ký ngay, nếu chuyển sang dạng mệnh lệnh thì cứng, còn viết mềm ra thì không vừa nút. Loại chữ này không nên chốt trên bảng tính mà phải đặt lên giao diện thật để xem độ dài. Thông báo lỗi cũng vậy: chỉ một từ là đủ để câu nghe như đang trách người dùng hay đang giúp họ.

Cách viết số, ngày tháng và địa chỉ cũng thuộc về ngữ điệu. Thứ tự ngày tháng, cách ngắt chữ số tiền, thứ tự ghi địa chỉ từ đơn vị nhỏ tới lớn đều có quy ước riêng. Câu chữ dịch rất mượt nhưng ngày tháng còn để theo định dạng nước ngoài thì trang đó lộ ngay là làm từ bên ngoài. Niềm tin thường bị bào mòn ở những chỗ này trước cả khi người đọc kịp đánh giá nội dung.

Vì vậy nên cố định quy tắc xưng hô và quy tắc trình bày thành một tài liệu. Trong tình huống nào dùng cách gọi nào, tên sản phẩm và tên tính năng viết ra sao, ngày tháng và số tiền viết thế nào, tất cả nằm một chỗ. Đây là cơ chế giữ cho giọng nói không đổi khi người phụ trách thay đổi. Không có nó thì sáu tháng sau, trong cùng một website sẽ có ba bốn nhân cách khác nhau đang nói chuyện với khách.

Từ khóa tìm kiếm không dịch được

Chữ mà người ta gõ vào ô tìm kiếm là thói quen chứ không phải bản dịch. Đem từ khóa gốc chuyển sang tiếng Việt cho đúng ngữ pháp thì ra một cụm nghe rất chỉnh, nhưng gần như không ai gõ như vậy. Từ khóa không phải thứ để dịch, mà là thứ phải đi tìm lại từ đầu trong chính thị trường này.

Chỗ lệch phổ biến nhất nằm giữa văn viết và văn nói. Một cụm trang trọng trong tài liệu gốc, khi dịch chỉn chu, sẽ ra đúng loại chữ chỉ xuất hiện trong văn bản. Trong khi đó người dùng gõ những từ ngắn hơn, đời thường hơn, đôi khi thiếu chủ ngữ và viết tắt. Nghịch lý ở đây là người dịch càng gọt cho câu đẹp thì bài càng rời xa từ khóa. Câu văn hay và câu văn được tìm thấy không phải lúc nào cũng là một.

Giữ lại bao nhiêu từ mượn tiếng Anh cũng cần cân nhắc từng trường hợp. Trong lĩnh vực công nghệ, rất nhiều từ được dùng nguyên dạng trong đời sống hằng ngày. Nếu cố chuyển hết sang từ thuần Việt thì câu sạch nhưng không ai tìm ra. Ngược lại, để nguyên tất cả thì bài đọc nặng và có vẻ chỉ dành cho người trong ngành. Cách làm được là xét từng từ theo cách nó thực sự được dùng, chứ không áp một nguyên tắc chung cho cả trang.

Ý định tìm kiếm cũng khác nhau giữa các thị trường. Cùng một chủ đề, người tìm ở nước ngoài có thể hỏi chi phí và thời gian trước, còn người tìm trong nước hỏi thứ khác trước. Khi đó thứ tự nội dung trên trang phải khác theo. Dịch nguyên trang gốc rồi đăng lên thì phần trả lời sớm nhất lại đang trả lời câu hỏi của người khác. Bài không dở, chỉ là thứ tự của người khác.

Cách thu thập chữ thật ra khá đơn giản. Lấy từ tin nhắn khách hàng đã gửi tới, lấy từ cách nhân viên trong công ty mô tả công việc đó khi nói chuyện, lấy từ những từ lặp đi lặp lại trong các nhóm và diễn đàn liên quan. Con số mà công cụ đưa ra chỉ nên dùng để tham khảo, còn việc cần làm là xem từ đó xuất hiện trong ngữ cảnh nào. Một từ có thể mang nghĩa khác hẳn tùy ngành, và chọn theo con số thôi thì kéo về nhóm người đọc không liên quan.

Chữ đã chọn thì đưa thẳng vào tiêu đề và đoạn mở đầu, rồi đánh dấu là không được sửa. Người biên tập ở vòng sau thường có phản xạ làm cho câu mượt hơn, và từ khóa biến mất một cách rất lặng lẽ. Chuyện này xảy ra nhiều và về sau rất khó truy nguyên nhân. Tách rõ phần nào cố định và phần nào được tự do gọt giũa ngay từ bản thảo sẽ tránh được cả một vòng tranh luận.

Cách ghi dữ liệu bên trong sản phẩm cũng vướng đúng chuyện này. Ở Job Connect VN, dịch vụ tuyển dụng do Yeowubie Interaction phát triển, cách viết tên vị trí công việc chính là từ khóa. Chức danh chính thức mà doanh nghiệp đăng lên và chữ mà người tìm việc gõ vào ô tìm kiếm nhiều khi không trùng nhau, nên hệ thống phải giữ cả hai cách gọi thì hai bên mới gặp được nhau. Đây không còn là chuyện dịch nữa mà là chuyện thiết kế cách lưu dữ liệu.

Viết cho thói quen gõ tìm kiếm không dấu

Người dùng trong nước rất hay gõ không dấu trên điện thoại. Lúc vội thì gõ vậy, và mọi người vẫn hiểu nhau. Nhưng nếu chức năng tìm kiếm và bộ lọc chỉ so khớp chuỗi có dấu, dữ liệu đang có sẽ hiện ra như thể không tồn tại. Người dùng kết luận là hệ thống trống rỗng rồi thoát ra, và không ai báo lỗi vì với họ đó không phải lỗi.

Nguyên tắc thiết kế khá gọn. Lưu nguyên văn đúng như người dùng nhập, đồng thời tạo thêm một giá trị đã chuẩn hóa dành riêng cho việc tìm kiếm và lưu song song. Khi hiển thị thì dùng bản gốc, khi tìm thì dùng bản chuẩn hóa. Không được ghi đè lên bản gốc, vì đã bỏ dấu rồi thì không khôi phục lại được. Đây là chuyện thêm một trường dữ liệu chứ không phải chuyện xóa bớt.

Trong bước chuẩn hóa, dùng chuẩn hóa Unicode để tách phần dấu ra khỏi chữ cái rồi loại bỏ phần dấu đó. Chỗ hay bị bỏ sót là chữ d có gạch ngang. Ký tự này không tách ra được theo cách thông thường nên các hàm bỏ dấu phổ biến để lọt, và phải xử lý riêng cho cả chữ hoa lẫn chữ thường. Chỉ vì một ký tự này mà nhiều họ tên thông dụng không tìm ra được, và lỗi kiểu đó thường chỉ lộ ra khi đã có vài nghìn bản ghi.

Chữ hoa chữ thường và khoảng trắng cũng nên gom về cùng một dạng trong giá trị chuẩn hóa. Mỗi người viết cách nhau một kiểu, có người tách hai chữ, có người viết liền. Dọn khoảng trắng trong bản chuẩn hóa thì nhập kiểu nào cũng ra cùng kết quả. Việc sắp xếp danh sách tên và việc kiểm tra trùng lặp cũng nên dựa trên cùng giá trị đó. Nếu hai bản ghi chỉ khác nhau ở dấu mà hệ thống coi là hai người khác nhau thì tài khoản trùng sẽ âm thầm tích lại.

Phần đường dẫn trên thanh địa chỉ và tên tập tin thì nên không dấu ngay từ đầu. Đường dẫn một khi đã công bố thì không nên đổi, vì đổi là những liên kết đã được chia sẻ sẽ hỏng. Tiêu đề email, tên tập tin tải về và các chuỗi chữ phải đi qua nhiều hệ thống khác nhau cũng an toàn hơn khi không dấu. Chỉ cần một mắt xích ở giữa xử lý sai bảng mã là chỗ đó vỡ, và thường phải tới tay khách hàng mới phát hiện.

Tìm kiếm nên chịu được khớp một phần và sai chính tả nhẹ. Nếu chỉ hỗ trợ khớp tuyệt đối, người dùng thử một hai lần rồi kết luận là không có. Gợi ý tự động hiển thị các giá trị đang thực sự tồn tại cũng là một cách giảm bớt việc phải gõ đúng. Bắt người dùng nhập chính xác luôn đắt hơn là để hệ thống chiều theo cách họ vẫn gõ.

Điều đáng nói là đây không phải vấn đề của việc dịch mà là vấn đề của thiết kế. Giao cho người phụ trách nội dung thì không giải quyết được. Việc này phải chốt cùng lúc với cấu trúc dữ liệu, trước khi dựng màn hình. Bổ sung sau thì phải xử lý lại toàn bộ dữ liệu đã tích lũy, và trong lúc xử lý lại thì kết quả tìm kiếm không ổn định. Đó là lý do câu chuyện nội dung tiếng Việt luôn dính tới câu chuyện kỹ thuật.

Cách làm việc để nội dung còn được viết tiếp

Một trang viết tốt một lần không có giá trị bằng một cách làm cho phép viết tiếp. Nếu coi nội dung tiếng Việt là một dự án dịch thuật làm một lần cho xong thì sáu tháng sau chỉ còn lại những câu đã cũ. Sản phẩm thay đổi, câu hỏi của khách thay đổi, riêng trang tiếng Việt đứng yên tại chỗ.

Việc đầu tiên là tách vai. Người quyết định nói cái gì, người viết bằng tiếng Việt, và người đọc lại để phán xét là ba vai khác nhau. Nếu một người ôm cả ba thì tuần nào người đó bận là nội dung dừng. Người phán xét nên đọc mà chưa xem bản gốc, bởi vì ai đã đọc bản gốc rồi thì bị cấu trúc bản gốc kéo đi và không còn thấy chỗ nào sượng nữa.

Bảng thuật ngữ cần sớm hơn nhiều người nghĩ. Tên sản phẩm, tên tính năng, quy tắc xưng hô, cách viết ngày tháng và số tiền, tất cả ghi vào một chỗ. Đây là cơ chế để người mới vào vẫn dùng đúng từ. Không cần đồ sộ, chỉ cần ghi khoảng hai mươi mục hay bị nhầm đi nhầm lại là đã thấy tác dụng ngay từ tuần đầu.

Cấu trúc hệ thống quản lý nội dung cũng phải theo. Nếu mỗi trang ngôn ngữ này bắt buộc ghép cứng với đúng một trang ngôn ngữ kia thì không thể mở rộng riêng một bên. Có những phần người đọc trong nước cần giải thích thêm mà bản gốc không có, và ngược lại. Cấu trúc nên cho phép số mục và độ dài khác nhau giữa các ngôn ngữ. Bù lại, phải nhìn được ngôn ngữ nào cập nhật lần cuối vào lúc nào.

Tín hiệu cập nhật không nên phụ thuộc vào trí nhớ. Khi bản gốc đổi, các bản ngôn ngữ khác nên hiện dấu hiệu là đang tụt lại phía sau. Chỉ cần có dấu hiệu đó là lần sau mở ra đã biết bắt đầu từ đâu. Không có thì vài tháng sau không ai biết trang nào còn đúng, và khi đã không biết thì không ai dám sửa, nội dung đóng băng luôn từ đó.

Nên giữ người viết ở bên trong nếu có thể. Giao ra ngoài theo từng câu thì lần nào cũng phải giải thích lại bối cảnh, và thời gian giải thích lớn hơn thời gian làm. Langtori, công cụ do Yeowubie Interaction phát triển để kết nối người học với người dạy, là một ví dụ dễ thấy: hai phía gọi cùng một thứ bằng hai cách khác nhau. Viết chữ trên màn hình theo cách gọi của một phía thôi thì phía còn lại thấy như không phải chuyện của mình. Khác biệt kiểu đó chỉ người ngồi trong, nhìn thấy hằng ngày, mới bắt được.

Bài viết này cũng có ba ngôn ngữ nhưng chúng không phải bản dịch của nhau. Chỉ trật tự các ý là giống, còn ví dụ và câu chữ được viết lại theo từng nhóm người đọc. Làm như vậy thì không lập được bảng đối chiếu, đổi lại mỗi ngôn ngữ đều có một bài đọc được. Thứ cần giữ lại của nội dung bản địa không phải là bảng đối chiếu, mà là những câu khiến người đọc xong làm khác đi.