← Studio Log
A. 솔루션 (Giải pháp)랭토리한국어 학습매칭 플랫폼베트남개인 교사

Cấu trúc ghép đôi giữa người học và người dạy tiếng Hàn

Cấu trúc ghép đôi giữa người học và người dạy tiếng Hàn
viết bởi Yeowubie

Điều thực sự cản trở người muốn học tiếng Hàn

Người Việt muốn học tiếng Hàn hiện nay không thiếu tài liệu. Có quá nhiều những bài giảng và giáo trình miễn phí. Vấn đề ở chỗ là làm thế nào để tìm được người phù hợp với đúng trình độ và mục tiêu của mình, rồi xác nhận xem người đó có đáng tin hay không. Vậy nên, điểm nghẽn nằm ở việc tìm và xác nhận, không nằm ở nội dung.

Ai đã từng tự học đều trải qua một quá trình khá giống nhau. Ban đầu là video, ứng dụng hỗ trợ nên để đọc được bảng chữ cái thì không khó. Vấn đề bắt đầu từ sau đó. Người học không có căn cứ nào để biết mình đang đứng ở đâu và bước tiếp theo nên làm gì. Tự đánh giá trình độ khó hơn nhiều người tưởng, và tự xây dựng một kế hoạch vượt trên trình độ tự đánh giá sai thường sẽ sụp đổ trong vài tuần.

Mục tiêu khác nhau cũng là điều hay bị bỏ qua. Người chuẩn bị du học cần điểm TOPIK. Người muốn sang Hàn Quốc làm việc phải qua kỳ thi cấp phép lao động. Người đang làm trong doanh nghiệp Hàn cần ngay những mẫu câu dùng trong họp và trong email. Người học vì gia đình hoặc bạn đời thì hội thoại đời sống mới là ưu tiên. Đưa cùng một lộ trình cho bốn người này thì cả bốn đều mất thời gian. Do vậy nên thông tin tìm được qua việc tự tìm kiếm rồi cho kết quả chung nên hầu như không phân biệt sự khác nhau giữa các mục tiêu giúp bạn được.

Gõ một câu tìm gia sư tiếng Hàn vào ô tìm kiếm, thứ hiện lên trước tiên thường là quảng cáo và bài đăng trong các nhóm. Không bên nào trả lời được câu hỏi cốt lõi: người giáo viên này có hợp với tôi lúc này không. Người này đã dạy thật chưa, đã từng làm với mục tiêu giống tôi chưa, có dạy được vào những ngày tôi rảnh không, tôi phải di chuyển bao xa. Muốn biết bốn điều đó phải nhắn qua nhắn lại nhiều lần, và chính quá trình ấy làm người ta nản.

Khó hơn nữa là phần lớn chi phí xác nhận chỉ được trả sau khi đã chi tiền. Học xong buổi đầu mới biết là không hợp, rồi quay lại từ đầu. Trong số những người bỏ dở việc học tiếng Hàn, không ít người không phải thiếu ý chí, mà kiệt sức vì lặp lại vòng khởi động lại đó vài lần.

Chênh lệch giữa các địa phương cũng rất rõ. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều lựa chọn, các tỉnh khác thì không như vậy. Học trực tuyến thu hẹp khoảng cách đó nhưng tạo ra vấn đề mới: khi ràng buộc địa lý biến mất, số ứng viên trở nên quá lớn. Có nhiều người để chọn và thật sự chọn được đúng người là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.

Phía người dạy: gặp học viên bằng cách nào

Phần lớn người dạy tiếng Hàn tại Việt Nam là cá nhân. Giáo viên tự do, người vừa du học Hàn Quốc về, người bản ngữ đang sinh sống tại Việt Nam đều nằm trong nhóm này. Khó khăn của họ không nằm ở năng lực giảng dạy, mà ở kênh hay nền tảng kết nối học viên một cách ổn định và cách trình bày bản thân sao cho người khác tin tưởng mình.

Kênh mà giáo viên cá nhân đang dùng thường có ba loại: nhóm Facebook, người quen giới thiệu, và tin nhắn Zalo. Cả ba đều buộc phải bắt đầu lại từ đầu với từng học viên: viết lại phần giới thiệu, kể lại kinh nghiệm, thương lượng lại lịch và địa điểm. Khoảng thời gian và công sức dành ra cho mỗi học viên mới này sẽ chiếm vào vào thời gian đáng lẽ dành cho việc dạy.

Phần việc ngoài giờ dạy cũng không nhẹ. Xếp lịch, nhắc trước một ngày, ghi lại buổi vắng, lưu lại bài đã học đến đâu. Khi dạy được đến một số lượng nhất định khoảng mười học viên thì việc quản lý tự dần trở thành một công việc riêng. Đến lúc đó khâu soạn bài mỏng đi, và chất lượng buổi học là thứ lung lay đầu tiên.

Vấn đề niềm tin tồn tại ở cả hai phía. Không chỉ học viên nghi ngại giáo viên. Học viên đến một buổi rồi biến mất, học viên không xuất hiện đúng giờ hẹn cũng gây thiệt hại cho giáo viên cá nhân, và thiệt hại đó không được ghi lại ở đâu cả.

Đây cũng là lý do thị trường trông như đang nghiêng hẳn về một phía. Trung tâm có ngân sách chạy quảng cáo, giáo viên cá nhân thì không, nên nguồn cung hiện ra trên kết quả tìm kiếm chỉ là một phần của nguồn cung thật. Một người dạy giỏi mà học viên không có cách nào biết đến sự tồn tại của họ thì trên thị trường cũng như người đó không tồn tại.

Thứ giáo viên cá nhân cần không phải là chiến dịch tiếp thị lớn. Nhiều khi chỉ cần một trang nói rõ họ là ai, dạy gì, rảnh vào lúc nào, ở dạng mà người lạ có thể tin. Các chức năng mà Langtori dành cho phía giáo viên nằm đúng chỗ này. Giáo viên tự tạo hồ sơ và trang lớp học của mình, chia sẻ trang đó qua mạng xã hội, quản lý lịch học và tiến độ ở cùng một nơi. Nội dung và phương pháp giảng dạy thuộc về chính giáo viên, còn công cụ sẽ hỗ trợ phần việc lặt vặt theo suốt quá trình dạy học.

Ghép đôi giải được gì và không giải được gì

Ghép đôi bằng ứng dụng thật sự làm giảm hai thứ: chi phí tìm kiếm và chi phí xác nhận. Sẽ có những phần mà ứng dụng không thể hỗ trợ được như: chất lượng giảng dạy, sự bền bỉ của người học, và kết quả thi. Nếu không phân biệt được rõ hai điều này thì sẽ dẫn đến việc một nền tảng bắt đầu hứa hẹn những điều mình không giữ được, và hệ quả của lời hứa đó cuối cùng rơi lại lên đầu người dùng.

Nhìn vào nhóm giải được trước. Biết trên thị trường đang có những giáo viên nào, loại bỏ những ứng viên không khớp điều kiện, đặt các thông tin cần thiết cạnh nhau theo cùng một định dạng, khớp lịch, lưu lại buổi trước đã đi đến đâu. Tất cả đều là việc có thể xử lý bằng cấu trúc: làm thủ công thì lâu và dễ sót, để công cụ làm thì đều đặn.

Cần phải làm rõ điều mà ứng dụng không làm được. Năng lực giảng dạy thuộc về giáo viên, sự ăn ý giữa hai người cũng vậy. Học viên có ngồi vào bàn mỗi tuần hay không, có làm bài tập hay không, không phải là phạm vi nền tảng can thiệp được. Nếu có dịch vụ nào tuyên bố bảo đảm điểm thi, thì họ đang hứa một kết quả nằm ngoài tầm kiểm soát của chính họ.

Từ đây sinh ra câu hỏi nên đo thành quả của việc kết nối giáo viên và học sinh qua ứng dụng bằng cái gì. Lấy số lượt kết nối làm thước đo thì con số tăng rất nhanh nhưng ý nghĩa lại mỏng. Một tiêu chí trung thực hơn là buổi học thứ hai có diễn ra hay không. Đến buổi đầu tiên là kết quả của công cụ, từ buổi thứ hai trở đi là kết quả của giáo viên và học viên, và công cụ chỉ nên nhận phần mình thật sự làm ra.

Việc kết nối còn một tác dụng ít được nhắc tới: nó hạ chi phí của việc sai. Người đầu tiên mình gặp luôn có thể không hợp, và điều đáng quan tâm là lúc đó tìm lại dễ đến mức nào. Khi việc tìm rẻ đi thì việc đổi cũng rẻ đi. Trong thực tế, một cấu trúc cho phép sửa nhanh khi sai bền hơn là một cấu trúc cố ghép trúng ngay từ lần đầu.

Đây cũng là ranh giới Yeowubie Interaction đặt ra khi làm Langtori. Thứ chúng tôi tạo ra là cấu trúc kết nối và tấm bản đồ giúp cấu trúc đó nhìn thấy được. Việc giảng dạy do các giáo viên cá nhân và các cơ sở tham gia nền tảng đảm nhận. Ranh giới này không phải một dòng chữ trong tài liệu, mà là tiêu chí thực tế để quyết định thêm hay bớt chức năng khi thiết kế sản phẩm.

Điều kiện của một lần kết nối tốt: trình độ, mục tiêu, lịch học, khoảng cách

Một kết nối muốn kéo dài thì bốn yếu tố phải khớp: trình độ hiện tại, mục tiêu cụ thể, lịch học thực tế, và khoảng cách di chuyển hoặc hình thức trực tuyến. Thiếu một trong bốn yếu tố kia thì lớp học vẫn bắt đầu được, nhưng thường dừng trong vài tuần. Langtori lọc theo khu vực, trình độ và mục tiêu chính là vì lý do này.

Bắt đầu từ trình độ. Các nhãn dán tên lớp học sơ cấp, trung cấp, cao cấp khó tin cậy vì mỗi người hiểu một kiểu. Hữu ích hơn nhiều là mô tả thẳng những gì mình làm được. Đọc được bảng chữ cái, tự giới thiệu liên tục được khoảng năm phút, đã có TOPIK cấp 2, nghe được cuộc họp bằng tiếng Hàn nhưng chưa nói được. Nhãn dán giúp lựa người phù hợp, còn mô tả thì giải thích được người đó, nên độ chính xác khi giáo viên chuẩn bị buổi đầu tiên khác hẳn.

Mục tiêu quyết định lộ trình. Ôn TOPIK và ôn kỳ thi cấp phép lao động khác nhau ngay từ dạng câu hỏi. Tiếng Hàn dùng trong công ty có phạm vi hẹp nhưng đòi hỏi độ chính xác cao, hội thoại đời sống thì ngược lại. Các mảng lớp học xuất hiện trên Langtori như hội thoại, ngữ pháp, TOPIK, thi cấp phép lao động, tiếng Hàn thương mại cũng tách ra theo logic đó. Mục tiêu cần phải xác định trước rồi thì giáo trình và tốc độ đi theo.

Yếu tố bị đánh giá thấp nhất là lịch học. Một giáo viên chỉ rảnh 8 giờ tối các ngày trong tuần và một học viên chỉ rảnh 2 giờ chiều các ngày trong tuần thì dù hợp nhau đến mấy cũng không gặp được. Vậy mà nhiều dịch vụ để phần lịch xuống cuối mới hỏi, trong khi lọc ngay từ đầu thì bớt hẳn những cuộc trao đổi vô ích. Lịch học gần với một bộ lọc hơn là một thứ để thương lượng.

Khoảng cách đặc biệt nặng ở Việt Nam. Năm cây số trên bản đồ vào giờ tan tầm có thể thành bốn mươi phút, và không nhiều người chịu được quãng đó hai buổi một tuần trong nhiều tháng. Vì vậy cách thực tế là thu gọn hình thức học trực tiếp về trong bán kính khoảng ba mươi phút di chuyển, phần còn lại mở sang trực tuyến. Kết hợp hai hình thức cũng là cách hay dùng: gặp mặt trong giai đoạn sát kỳ thi, còn lại học qua màn hình.

Đặt cả bốn điều kiện cùng lúc thì số ứng viên giảm mạnh, và không cần xem đó là mất mát. Ghép đôi tốt là việc thu hẹp chứ không phải việc kéo dài danh sách. Một màn hình đưa ra bốn năm người đã qua bộ lọc giúp ra quyết định tốt hơn một màn hình bắt chọn trong hai trăm người.

Ranh giới mà một công cụ phải giữ: ai là chủ thể của việc học và việc dạy

Chủ thể của việc dạy là giáo viên cá nhân và các cơ sở tham gia nền tảng. Chủ thể của việc học là chính người học. Yeowubie Interaction làm công cụ ghép đôi và bản đồ hóa nối hai bên đó. Chúng tôi không mở lớp, không thiết kế chương trình đào tạo, không tuyển giáo viên làm nhân viên. Đây là ranh giới của sản phẩm, không phải một nguyên tắc nói cho có.

Có ba lý do cho lựa chọn này. Thứ nhất là trách nhiệm. Việc trực tiếp cung cấp dịch vụ giáo dục đi kèm những yêu cầu và thủ tục tương ứng. Làm công cụ và cung cấp giáo dục là hai việc khác nhau về bản chất, và chúng tôi đứng ở phía trước. Để ranh giới mập mờ thì khi có chuyện, ai phải trả lời cũng mập mờ theo.

Thứ hai là chất lượng. Giá trị của lớp 1:1 đến từ chỗ mỗi giáo viên có cách làm riêng. Người thì chỉnh phát âm trước, người thì bắt nói ngay rồi sửa sau. Nếu nền tảng đứng ở giữa và áp một chương trình chung xuống, sự đa dạng đó bị san phẳng, và lý do để học với một giáo viên cá nhân cũng nhạt đi. Quyền quyết định phương pháp phải nằm lại ở người dạy.

Thứ ba là niềm tin. Người học cần biết mình đang trả tiền cho ai và cho cái gì. Nếu công cụ tự nhận vai trò chủ thể giáo dục, người học sẽ hiểu sai về đối tác thật sự của mình. An toàn hơn cho cả hai bên là để tên tuổi, kinh nghiệm, mảng chuyên môn và khung giờ của giáo viên hiện ra đúng như nó vốn có, còn công cụ chỉ làm phần truyền tải thông tin đó một cách chính xác.

Vậy trách nhiệm của công cụ là gì. Truyền tải thông tin chính xác, không làm cho những thứ chưa được xác nhận trông như đã xác nhận, không thổi phồng kết quả để hứa hẹn, và làm rõ phần nào thuộc về ai khi có sự cố.

Yeowubie Interaction là một studio phát triển phần mềm làm việc song song ở Hàn Quốc và Việt Nam. Chúng tôi vừa phát triển cho khách hàng, vừa tự làm và tự vận hành sản phẩm của mình. onSpots cho quản lý điểm danh, Job Connect VN cho tuyển dụng tại Việt Nam, và Winnie hỗ trợ hộ kinh doanh nhỏ vận hành cửa hàng đều nằm trên cùng một tuyến. Langtori phụ trách mảng học tiếng Hàn, hỗ trợ các ngôn ngữ Hàn, Việt và Anh, trong đó tiếng Việt là ngôn ngữ chính.

Lời hứa của chúng tôi: rút ngắn khoảng cách giữa người muốn học và người có thể dạy. Những gì diễn ra sau đó thuộc về hai người ấy, và để như vậy thì kết quả bền hơn. Có thể xem Langtori tại www.langtori.com.